Phổ biến pháp luật Phổ biến pháp luật

Chính phủ ban hành Nghị quyết thường kỳ tháng 3 năm 2022

Ngày 08/4/2022 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 50/NQ-CP về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3 năm 2022. Chính phủ ra Quyết nghị các nội dung sau:

I. Về tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và 3 tháng đầu năm 2022; tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ; tình hình triển khai thực hiện chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội

Chính phủ thống nhất đánh giá: Trong bối cảnh kinh tế, chính trị thế giới và dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, khó lường, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức, chủ động, quyết liệt, linh hoạt, nhanh nhạy xử lý những vấn đề phát sinh và tập trung thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của năm 2022 ngay từ đầu năm. Nhờ sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự tham gia tích cực của cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và 3 tháng đầu năm của nước ta tiếp tục phục hồi tích cực và đạt được nhiều kết quả khởi sắc, khá toàn diện trên các lĩnh vực. Dịch bệnh tiếp tục được kiểm soát trên phạm vi toàn quốc với số ca mắc mới, chuyển nặng, tử vong giảm sâu. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 3 tháng đầu năm chỉ tăng 1,92% trong bối cảnh lạm phát ở nhiều nước trên thế giới tăng mạnh. Thị trường tiền tệ, tín dụng, tỷ giá, lãi suất cơ bản ổn định, duy trì mặt bằng lãi suất cho vay hợp lý. Tăng trưởng kinh tế quý I đạt 5,03% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,38%; khu vực dịch vụ tăng 4,58%; khu vực nông nghiệp tăng 2,45%. Các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm. Thu ngân sách nhà nước quý I đạt 33,5% dự toán năm; chính sách giảm thuế giá trị gia tăng đối với một số hàng hóa, dịch vụ, giảm thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu được triển khai kịp thời, góp phần giảm áp lực tăng giá thực phẩm, hàng hóa, dịch, vụ tiêu dùng. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 3 tăng mạnh 36,8%, trong đó xuất khẩu tăng 45,5%; tính chung xuất khẩu quý I tăng 12,9% so với cùng kỳ; xuất siêu 1,39 tỷ USD trong tháng 3 giúp quý I đạt xuất siêu 809 triệu USD. vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý I năm 2022 tăng 8,8%, trong đó vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện đạt 4,42 tỷ USD, cao nhất so với cùng kỳ từ năm 2018 đến nay. Đăng ký doanh nghiệp quý I có nhiều khởi sắc, số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng 36,7% so với cùng kỳ năm trước.

Sản xuất công nghiệp trong quý I năm 2022 tiếp tục phục hồi với giá trị tăng thêm toàn ngành tăng 7,07% so với cùng kỳ, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đóng vai trò động lực với mức tăng 7,79%. Sản xuất nông nghiệp cơ bản thuận lợi; năng suất lúa vụ mùa tăng 7,4 ta/ha, chăn nuôi dần phục hồi; nuôi trồng thủy sản phát triển ổn định, các sản phẩm chủ lực như tôm, cá tra tăng mạnh, được mùa, được giá. Thương mại, dịch vụ phục hồi tích cực, đặc biệt sôi động trở lại trong tháng 3; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 3 tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường du lịch quốc tế mở cửa trở lại; khách quốc tế đến nước ta trong tháng 3 tăng 2,2 lân, quý I tăng 89,1% so với cùng kỳ năm trước.

Công tác an sinh xã hội được triển khai tích cực; đời sống của người dân được bảo đảm; thực hiện hiệu quả các chính sách hỗ trợ người lao động gặp khó khăn. Thị trường lao động phục hồi rất nhanh; tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm giảm, thu nhập của người lao động được cải thiện. Hoạt động vui chơi giải trí, văn hóa nghệ thuật và trường học từng bước được mở cửa trở lại gắn với bảo đảm an toàn dịch bệnh. Công tác xây dựng thể chế, cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được đẩy mạnh. Quốc phòng, an ninh, độc lập, chủ quyền biên giới quốc gia được giữ vững; ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm. Công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế được đẩy mạnh, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của đất nước trên trường quốc tế; làm tốt công tác bảo hộ công dân, kịp thời tổ chức đón đồng bào tại vùng chiến sự U-crai-na về nước bảo đảm chu đáo, an toàn. Niềm tin của nhân dân, doanh nghiệp và bạn bè quốc tế vào tiến trình mở cửa, phục hồi của nền kinh tế vào sự lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của Đảng, Nhà nước được củng cố và tăng lên.

Tuy nhiên, nước ta vẫn còn những hạn chế, bất cập và tiếp tục gặp không ít khó khăn, thách thức. Dịch COVID-19 tiếp tục kéo dài, có xuất hiện tâm lý chủ quan ảnh hưởng đến tiến độ tiêm vắc-xin mũi 3. Sản xuất kinh doanh trong một số ngành, lĩnh vực còn khó khăn, số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động còn cao; nợ xấu có xu hướng tăng; áp lực lạm phát gia tăng, nhất là do giá cả đầu vào tăng, đặc biệt xăng dầu, thức ăn chăn nuôi tăng cao. Tiến độ phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công còn chậm; việc thực hiện một số nhiệm vụ trong Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội chưa kịp thời. Tình hình tội phạm trên một số địa bàn diễn biến phức tạp. Thị trường chứng khoán, bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp còn tiềm ẩn rủi ro, xảy ra một số sai phạm nghiêm trọng đang được các cơ quan chức năng tập trung xử lý. Đời sống của một bộ phận người dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, còn khó khăn... Sự phối hợp của một số cơ quan trong xử lý công việc còn thiếu chặt chẽ, hiệu quả chưa cao; công tác phân tích, đánh giá, dự báo tình hình chưa đáp ứng yêu cầu...

II. Về Báo cáo đánh giá bổ sung kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021; tình hình triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022

Chính phủ cơ bản thống nhất với Báo cáo số 2159/TTr-BKHĐT ngày 01 tháng 4 năm 2022 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiếp thu ý kiến Thành viên Chính phủ và các ý kiến phát biểu tại Phiên họp, hoàn thiện Báo cáo, trình Phó Thủ tướng Lê Minh Khái cho ý kiến hoàn thiện; trên cơ sở đó, giao Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ trình Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội theo quy định; chịu trách nhiệm về số liệu và nội dung báo cáo.

III. Về Báo cáo kết quả thực hiện Kế hoạch đầu tư công năm 2021 và tình hình kế hoạch đầu tư công năm 2022

1. Chính phủ cơ bản thống nhất với Báo cáo số 2156/BC-BKHĐT ngày 01 tháng 4 năm 2022 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiếp thu ý kiến Thành viên Chính phủ và các ý kiến phát biểu tại Phiên họp, hoàn thiện Báo cáo.

2. Về việc kéo dài kế hoạch đầu tư vốn ngân sách trung ương năm 2021 sang năm 2022: Giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, các bộ, cơ quan liên quan khẩn trương rà soát số vốn còn lại của năm 2021 chưa giải ngân và nhu cầu kéo dài của các địa phương để báo cáo cấp có thẩm quyền theo quy định; trong đó báo cáo rõ các quy định về kéo dài, thẩm quyền quyết định và đề xuất phương án xử lý, bảo đảm đúng quy định.

3. Về phân bổ kế hoạch vốn năm 2022: Giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp, đề xuất phương án điều chuyển kế hoạch vốn năm 2022 của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương đến ngày 31 tháng 3 năm 2022 chưa phân bổ hết cho các bộ, cơ quan trung ương, địa phương khác đã có dự án và có nhu cầu bổ sung vốn. Người đứng đầu bộ, cơ quan trung ương, địa phương châm phân bổ kế hoạch vốn chịu trách nhiệm kiểm điểm tập thể, cá nhân liên quan đối với việc chậm phân bổ kế hoạch vốn mà không có lý do khách quan, bất khả kháng; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 4 năm 2022.

Các bộ, cơ quan trung ương và địa phương khẩn trương hoàn thiện thủ tục đầu tư các dự án mới dự kiến bố trí kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, rà soát, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định trước khi báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến theo quy định tại Nghị quyết số 29/2021/NQ15 ngày 28 tháng 7 năm 2021.

4. Về giải ngân kế hoạch vốn đầu tư năm 2022: Yêu cầu người đứng đầu các bộ, cơ quan, địa phương coi việc giải ngân vốn đầu tư năm 2022 là một nhiệm vụ chính trị trọng tâm của năm 2022, cần có các giải pháp quyết liệt ngay để triển khai các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nhằm thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, tiến độ thi công, chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến đất đai, tài nguyên; khẩn trương rà soát, kiên quyết điều chuyển kế hoạch vốn giữa các dự án chậm giải ngân sang dự án có tiến độ giải ngân tốt, còn thiếu vốn...; chịu trách nhiệm toàn diện trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về việc chậm giải ngân, gây lãng phí, thất thoát vốn, tài sản nhà nước.

IV. Về Báo cáo đánh giá bổ sung kết quả thực hiện ngân sách nhà nước năm 2021; tình hình triển khai dự toán ngân sách nhà nước năm 2022

1. Chính phủ cơ bản thống nhất với Báo cáo số 44/BC-BTC ngày 01 tháng 4 năm 2022 của Bộ Tài chính. Giao Bộ Tài chính tiếp thu ý kiến Thành viên Chính phủ và các ý kiến phát biểu tại Phiên họp, hoàn thiện Báo cáo; trên cơ sở đó, giao Bộ trưởng Bộ Tài chính thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ trình Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội theo quy định; chịu trách nhiệm về số liệu và nội dung báo cáo.

2. Bộ Tài chính nghiên cứu, bổ sung giải pháp huy động bảo đảm đủ nguồn lực để thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội; theo dõi, tổng hợp nhu cầu chi của các bộ, cơ quan, địa phương để đề xuất phương án kiên quyết cắt giảm, tiết kiệm chi thường xuyên, nhất là các khoản chi sự nghiệp có tính chất đầu tư, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 7 năm 2022.

3. Bộ Tài chính khẩn trương xây dựng phương án xử lý khoản tăng thu ngân sách trung ương năm 2021 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Văn bản số 877/VPCP-KTTH ngày 29 tháng 3 năm 2022, bảo đảm đúng quy định, trong đó tập trung bổ sung nguồn lực để thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, giảm bội chi và nợ công; trường hợp bố trí cho các dự án đầu tư thì việc phân bổ vốn phải trọng tâm, trọng điểm, tập trung ưu tiên cho các dự án hạ tầng giao thông thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.

4. Các Bộ: Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư tiếp tục rà soát các số liệu, nhận định, đánh giá, bảo đảm thống nhất giữa các Báo cáo về kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội.

V. Về Báo cáo về quy định giới hạn quy mô diện tích sử dụng đất theo từng giai đoạn đối với các khu công nghiệp có quy mô diện tích trên 500 ha trong dự thảo Nghị định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế (thay thế Nghị định số 82/2018/NĐ-CP)

Giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu, tiếp thu ý kiến Thành viên Chính phủ để hoàn thiện dự thảo Nghị định theo hướng quy định quy mô diện tích sử dụng đất phù hợp với nguồn lực đất đai và tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương; có cơ chế linh hoạt, thuận lợi đối với các khu công nghiệp có quy mô đầu tư lớn, tạo cụm liên kết ngành tại các khu vực có lợi thế phát triển, đặc biệt là tại các Vùng kinh tế trọng điểm; nghiên cứu đơn giản hóa thủ tục thực hiện mở rộng khu công nghiệp; trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, ký ban hành.

VI. Về dự án Luật Khám bệnh, chữa bệnh (sửa đổi)

Giao Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các bộ, cơ quan liên quan tiếp thu đầy đủ ý kiến Thành viên Chính phủ, chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật Khám bệnh, chữa bệnh (sửa đổi); trên cơ sở đó, giao Bộ trưởng Bộ Y tế thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình Quốc hội dự án Luật tại Kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XV (tháng 5 năm 2022).

VII. Về Đề nghị xây dựng Luật Phát triển công nghiệp

Chính phủ thông qua các chính sách và Đề nghị xây dựng Luật Phát triển công nghiệp được Bộ Công Thương trình. Giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan tiếp thu đầy đủ ý kiến Thành viên Chính phủ, tiếp tục rà soát, đánh giá, tổng kết toàn diện việc triển khai thi hành các chính sách, pháp luật phát triển công nghiệp hiện nay, kinh nghiệm quốc tế về phát triển các ngành công nghiệp, xây dựng, hoàn thiện các chính sách trong Đề nghị xây dựng Luật, cụ thể hóa khi xây dựng dự án Luật bảo đảm tiến độ, chất lượng và tính đồng bộ của hệ thống pháp luật. Giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình về việc bổ sung dự án Luật này vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2023, trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XV (tháng 5 năm 2023).

VIII. Về Đề nghị xây dựng Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp (sửa đổi)

Chính phủ thông qua các chính sách và Đề nghị xây dựng Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp (sửa đổi) được Bộ Tài chính trình. Giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các bộ, cơ quan liên quan tiếp thu đầy đủ ý kiến Thành viên Chính phủ, hoàn thiện hồ sơ Đề nghị xây dựng Luật; tiếp tục nghiên cứu phân định rõ mối quan hệ, thẩm quyền, trách nhiệm giữa cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực, cơ quan đại diện chủ sở hữu và các doanh nghiệp nhà nước; gắn việc nghiên cứu, xây dựng dự thảo Luật với việc tổng kết, đánh giá mô hình cơ quan đại diện chủ sở hữu; lấy ý kiến các chuyên gia, cơ quan liên quan và nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến, đề xuất của doanh nghiệp nhà nước tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc của Thủ tướng Chính phủ với doanh nghiệp nhà nước ngày 24 tháng 3 năm 2022. Giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình về việc bổ sung dự án Luật này vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2023, trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XV (tháng 5 năm 2023).

IX. Về triển khai Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06)

1. Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tập trung triển khai Đề án 06

2. Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đẩy nhanh tiến độ kiểm tra an ninh, an toàn thông tin đối với hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp bộ, cấp tỉnh phục vụ kết nối, tích hợp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; kịp thời tháo gỡ, khó khăn vướng mắc về cung cấp định danh điện tử của công dân, cấp thẻ căn cước công dân để thực hiện các thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.

3. Bộ Thông tin và Truyền thông khẩn trương ban hành văn bản hướng dẫn về các thành phần công nghệ thông tin thiết yếu cần thiết và tiêu chuẩn, định mức kèm theo phải đầu tư theo yêu cầu của Đề án 06 làm cơ sở để các bộ, ngành, địa phương đề xuất đầu tư, dự toán kinh phí thực hiện. Trên cơ sở đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính hướng dẫn bố trí kinh phí đầu tư, thường xuyên bảo đảm việc triển khai thực hiện đáp ứng lộ trình của Đề án 06.

Việc ban hành văn bản hướng dẫn của Bộ Thông tin và Truyền thông phải hoàn thành trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu nghiệp vụ của Bộ Công an. Sớm có giải pháp khuyến khích, thúc đẩy người dân sử dụng dịch vụ ký số từ xa (Smart CA) để thực hiện các thủ tục hành chính trên môi trường điện tử. Chỉ đạo các nhà mạng kết nối thông tin thuê bao (trừ thông tin mật) với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để xác thực dữ liệu người dùng nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, giải quyết tình trạng sử dụng SIM rác, báo cáo kết quả thực hiện với Thủ tướng Chính phủ.

4. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Văn phòng Chính phủ triển khai kết nối, tích hợp, chia sẻ, đồng bộ dữ liệu với Cổng Dịch vụ công quốc gia phục vụ thanh toán trực tuyến nghĩa vụ tài chính trong giải quyết thủ tục hành chính, thực hiện dịch vụ công; rà soát, phân bổ các quy định về tổ chức kết nối, chia sẻ dữ liệu để bảo đảm việc đối soát, hoàn trả lại phí, lệ phí thực hiện thủ tục hành chính trên Cổng Dịch vụ công quốc gia cho người dân, doanh nghiệp.

Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương, theo chức năng, nhiệm vụ được giao, triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp nêu tại Nghị quyết này; thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc thực hiện; kịp thời báo cáo, đề xuất Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ những vấn đề phát sinh, vượt thẩm quyền.

Nội dung xem trên file đính kèm./.

 


Văn Bản Mới Văn Bản Mới

  • 08/2022/TT-BKHĐT (31/05/2022)
    hướng dẫn cung cấp, đăng tải thông tin về đấu thầu và lựa chọn nhà...
  • 31/2022/NĐ-CP (20/05/2022)
    hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước đối với khoản vay của doanh...
  • 06/2022/TT-BKHĐT (10/05/2022)
    HƯỚNG DẪN MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 80/2021/NĐ-CP NGÀY 26 THÁNG 8...
  • 05/2022/TT-BKHĐT (10/05/2022)
    HƯỚNG DẪN CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ...
  • 08/2022/QĐ-UBND (21/04/2022)
    Quy định phân vùng tiếp nhận nước thải trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng...

Thống Kê Truy Cập Thống Kê Truy Cập

Tổng số lượt truy cập: 2679691
Số người đang truy cập: 8
Hôm nay: 3410
Hôm qua: 4985
Tuần này: 16961
Tuần trước: 22742
Tháng này: 96164
Tháng trước: 107052

Thủ tục hành chính 

 

Dịch vụ công trực tuyến Sở KHĐT

Hỏi đáp

 

Hệ thống Quản lý dự án đầu tư