Kinh tế xã hội Kinh tế xã hội

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2017 VÀ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH NĂM 2018

Trong năm việc triển khai thực hiện các Nghị quyết của Chính phủ, của HĐND, các Chỉ thị, Quyết định của UBND tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội có những kết quả nổi bật, bên cạnh đó cũng có những hạn chế.

* Những kết quả nổi bật:

- Các nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy tăng trưởng các ngành, lĩnh vực đã mang lại những tác động tích cực; hầu hết các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu như: tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP), giá trị sản xuất công nghiệp, doanh thu dịch vụ du lịch, cảng biển, vận tải, kim ngạch xuất khẩu trừ dầu, tổng vốn đầu tư phát triển, tổng thu ngân sách trên địa bàn… đều tăng vượt mức Nghị quyết đề ra, các mục tiêu tăng trưởng kinh tế cả năm 2017 cơ bản hoàn thành.

- Thu ngân sách đạt vượt dự toán, tạo điều kiện đảm bảo cân đối chi đầu tư phát triển và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên khác, đồng thời góp phần tăng thu ngân sách quốc gia.

- Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện, tạo điều kiện thúc đẩy thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp; vốn đầu tư đăng ký cũng như thực hiện của doanh nghiệp trong và ngoài nước đều tăng.

- Các ngành giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa và thể dục - thể thao triển khai đầy đủ, kịp thời các nhiệm vụ được giao; các chính sách an sinh xã hội, các chính sách đối với người lao động, người có công, người nghèo, đồng bào dân tộc và các đối tượng bảo trợ xã hội,... được quan tâm thực hiện.

- An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; tình hình tai nạn giao thông có giảm về số vụ và số người bị thương vong.

- Công tác cải cách hành chính được quan tâm chỉ đạo và giám sát thường xuyên, đã kịp thời tháo gỡ nhiều tồn tại, khó khăn vướng mắc; tiếp nhận và giải quyết kịp thời các phản ánh, kiến nghị của các tổ chức, công dân có liên quan đến công tác giải quyết thủ tục hành chính.

- Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm được chú trọng, đã triển khai nhiều giải pháp, biện pháp với quyết tâm cao, tạo chuyển biến tích cực bước đầu về nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh.

- Công tác tiếp công dân được thực hiện tốt đã góp phần làm giảm số vụ khiếu nại, tố cáo so với năm 2016. Các ngành, các cấp trên địa bàn tỉnh đã có nhiều cố gắng, triển khai thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo; công tác phối hợp giữa các ngành, các cấp đã thực hiện tốt hơn; chất lượng các báo cáo tham mưu đã được nâng cao; đã tham mưu giải quyết 100% các vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn từ năm 2016 chuyển qua.

* Những mặt hạn chế và nguyên nhân:

Bên cạnh những mặt đạt được, tình hình kinh tế - xã hội năm 2017 cũng còn một số hạn chế:

- Tiến độ triển khai một số nhiệm vụ, giải pháp về phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 theo Nghị quyết của HĐND tỉnh còn chậm như việc di dời các cơ cở chế biến hải sản vào các khu chế biến hải sản tập trung; chưa ban hành quy chế quản lý bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh; nghiên cứu đề xuất, điều chỉnh lại định mức tái định cư bằng tiền; xúc tiến đầu tư nhà máy xử lý rác tại Côn Đảo;…

- Sản xuất ngư nghiệp tăng trưởng thấp hơn Nghị quyết đề ra; tình trạng tàu cá của tỉnh vi phạm vùng biển nước ngoài đánh bắt hải sản trái phép vẫn còn xảy ra nhiều. Nguyên nhân: Công tác quản lý tàu đánh bắt ngoài khơi còn nhiều bất cập, ý thức chấp hành pháp luật của ngư dân còn hạn chế; chế tài xử phạt và việc áp dụng chế tài đối với tàu cá và ngư dân vi phạm chưa đủ sức răn đe; công tác quản lý ghe cào trong khai thác thủy sản còn bất cập.

- Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch được triển khai tích cực, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế như chưa tiếp cận được thị trường khách quốc tế một cách rộng rãi; việc tuyên truyền trên báo chí chưa mang lại hiệu quả cao.

- Tiến độ triển khai các dự án khởi công mới nguồn vốn ngân sách còn chậm. Nguyên nhân chủ yếu do các chủ đầu tư chậm trong việc tổ chức lập thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán; quy định của pháp luật về triển khai các công việc như: Lựa chọn nhà thầu lập thiết kế - tổng dự toán, quy định về lập và thẩm định thiết kế kỹ thuật - tổng dự toán... còn bất cập.

- Nhiều dự án đầu tư của doanh nghiệp cả trong nước và ngoài nước tiến độ đầu tư chậm so với cam kết ghi trong Giấy chứng nhận đầu tư, nguyên nhân chủ yếu là do vướng mắc về bồi thường giải phóng mặt bằng còn phát sinh, kéo dài; một số dự án do nhà đầu tư chậm triển khai, giải thể doanh nghiệp.

- Số giường bệnh trên vạn dân chỉ đạt 18,3 giường, thấp hơn Nghị quyết đề ra (18,7 giường), do dự án nâng cấp, mở rộng Trung tâm Y tế huyện Xuyên Mộc lên 200 giường (tăng thêm 50 giường) chưa hoàn thành. Vì vậy, với việc nâng giường cho Bệnh viện Mắt thêm 30 giường thì tổng số giường bệnh trên toàn tỉnh đến cuối năm 2017 là 2.094 giường nhưng dân số đến cuối năm dự kiến tăng lên 1.145 ngàn người nên tỷ lệ giường bệnh trên vạn dân không tăng.

- Việc xâm lấn đất các di tích còn xảy ra, chưa giải quyết triệt để; một số di tích đã xuống cấp chưa được trùng tu, tôn tạo kịp thời.

- Công tác quản lý môi trường trong sản xuất chăn nuôi còn chưa chặt chẽ.

- Tình hình vi phạm pháp luật về ma túy, phạm pháp hình sự còn diễn biến phức tạp.

- Một số nội dung của công tác phòng chống tham nhũng hiệu quả chưa cao. Nguyên nhân do một số cơ quan, tổ chức, đơn vị thiếu chủ động trong công tác phòng chống tham nhũng; nội dung triển khai mang tính hình thức. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng chống tham nhũng chưa thường xuyên và sâu rộng trong nhân dân, do vậy việc tham gia phát hiện và đấu tranh phòng chống tham nhũng trong người dân chưa được nhiều.

- Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo tuy có nhiều chuyển biến tích cực, song tình hình khiếu nại đông người trong thời gian qua vẫn diễn ra phức tạp, nội dung tập trung chủ yếu vẫn là các khiếu nại chưa được giải quyết dứt điểm hiện nay. Thời hạn giải quyết phần lớn các vụ khiếu nại, tố cáo còn kéo dài so với quy định của pháp luật, tỷ lệ giải quyết dứt điểm các vụ việc chưa cao; nguyên nhân do một số vụ việc khiếu nại, tố cáo có nội dung phức tạp, có tình tiết mâu thuẫn giữa trình bày của công dân nên phải thực hiện yêu cầu cơ quan liên quan giải trình và cung cấp hồ sơ nhiều lần và phải thực hiện đối thoại trước khi quyết định giải quyết khiếu nại; các cán bộ được giao thụ lý xác minh, tham mưu vụ việc vẫn phải đồng thời thực hiện các công việc khác. 

          * Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội thực hiện cụ thể như sau:

a) Chỉ tiêu kinh tế

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) tăng 7,2%.

- Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 8,56%.

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 10,96%; dịch vụ lưu trú tăng 13%.

- Kim ngạch xuất khẩu trừ dầu đạt 4.448 triệu USD, tăng 12%.

- Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 3,58%, ngư nghiệp tăng 4,38%.

- Tổng vốn đầu tư trên địa bàn khoảng 49.330 tỷ đồng, tăng 11,26%; trong đó: vốn ngân sách địa phương quản lý 8.580 tỷ đồng, tăng 4,22%; vốn đầu tư của doanh nghiệp trong nước 12.000 tỷ đồng, tăng 20% và vốn đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài 28.750 tỷ đồng, tăng 10,13%.

- Thu hút 20 dự án đầu tư nước ngoài và 30 dự án đầu tư trong nước, tổng vốn đầu tư đăng ký 1,2 tỷ USD và 30.000 tỷ đồng.

- Tổng thu ngân sách trên địa bàn 64.218 tỷ đồng, giảm 5% , trong đó: thu thuế xuất nhập khẩu 14.900 tỷ đồng, giảm 9,7%; thu ngân sách nội địa 29.338 tỷ đồng, tăng 9,17%. Tổng chi ngân sách địa phương 17.667 tỷ đồng, tăng 7,6%; trong đó: chi đầu tư phát triển 8.580 tỷ đồng, tăng 4,22%; chi thường xuyên 8.188 tỷ đồng, tăng 6,12%.

b) Chỉ tiêu văn hóa - xã hội

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,05%.

- Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế 85,5%.

- Tỷ lệ lao động tham gia bảo hiểm xã hội 42,4%.

- Tỷ lệ huy động số cháu đi mẫu giáo trong độ tuổi 93%.

- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng 6,4%; số giường bệnh/vạn dân 18,4 giường; số bác sĩ/vạn dân 7,6 bác sĩ.

- Tỷ lệ gia đình đạt chuẩn văn hóa 91%; tỷ lệ khu phố, thôn ấp đạt chuẩn văn hóa 97,52%.

c) Chỉ tiêu môi trường

- Tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 99,8%; trong đó tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước máy là 82%.

- Tỷ lệ che phủ cây xanh đạt 44%; trong đó tỷ lệ che phủ rừng đạt 13,75%.

- Tỷ lệ chất thải nguy hại đã xử lý đạt tiêu chuẩn quốc gia 87%.

- Tỷ lệ chất thải rắn thu gom, đã xử lý đạt tiêu chuẩn quốc gia: Rác thải y tế 100%; rác thải công nghiệp thông thường 98% và rác thải sinh hoạt đô thị 93%.

Nội báo cáo chi tiết xem trên file đính kèm.

Báo cáo 254/BC-UBND


Văn Bản Mới Văn Bản Mới

  • 15/2017/QĐ-UBND ngày (21/08/2018)
    Quyết định ban hành quy định chế độ, miễn, giảm tiền thuê đất đối với...
  • 15/2017/QĐ-UBND ngày (21/08/2018)
    Quyết định ban hành quy định chế độ, miễn, giảm tiền thuê đất đối với...
  • 07/2018/NQ-HĐND (20/07/2018)
    Nhiệm vụ trọng tâm phát triển Kinh tế - Xã hội, quốc phòng - an ninh 6...
  • 23/2018/NQ-HĐND (20/07/2018)
    Quy định phân cấp thẩm quyền quản lý tài sản công tại các cơ quan, tổ...
  • 13/2018/NQ-HĐND (13/07/2018)
    Ban hành một số chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt...

Thống Kê Truy Cập Thống Kê Truy Cập

Đang truy cập: 3
Tất cả: 308385

Thủ tục hành chính 

 

Dịch vụ công trực tuyến Sở KHĐT

Hỏi đáp

 

Công báo chính phủ