Sở Kế hoạch và đầu tư
Tỉnh Bà rịa - Vũng tàu

Chào mừng bạn đến với Trang thông tin điện tử Sở Kế hoạch và Đầu tư

CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG, CHỈ SỐ GIÁ VÀNG VÀ CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ THÁNG 9 NĂM 2023

03/10/2023 - 13:45

CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG THÁNG 9 NĂM 2023

So với tháng trước, CPI tháng 9/2023 tăng 1,08% (khu vực thành thị tăng 1,25%; khu vực nông thôn tăng 0,89%). Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 10 nhóm hàng tăng giá so với tháng trước, riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,23%.

Diễn biến giá tiêu dùng tháng 9/2023 so với tháng trước của một số nhóm hàng chính như sau:

1. Hàng ăn và dịch vụ ăn uống (+0,73%)

Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tháng 9/2023 tăng 0,73% so với tháng trước, tác động làm CPI chung tăng 0,24 điểm phần trăm, trong đó lương thực tăng 3,19%, tác động tăng 0,12 điểm phần trăm; thực phẩm tăng 0,38%, tác động tăng 0,08 điểm phần trăm; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,54%, tác động tăng 0,04 điểm phần trăm.

1.1. Lương thực (+3,19%)

Chỉ số giá nhóm lương thực tháng 9/2023 tăng 3,19% so với tháng trước, trong đó chỉ số giá nhóm gạo tăng 4,23% (Gạo tẻ thường tăng 4,72%; gạo tẻ ngon tăng 2,94% và gạo nếp tăng 1,46%). Trong tháng 9, giá gạo trong nước tiếp tục tăng theo giá gạo xuất khẩu do nhu cầu nhập khẩu gạo của các thị trường tiêu thụ lớn như Phi-lip-pin, Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a và châu Phi tăng trong khi Ấn Độ, Nga, UAE thực hiện cấm xuất khẩu gạo để bình ổn giá trong nước.

Trong tháng, giá gạo tẻ thường dao động từ 14.000-17.000 đồng/kg; giá gạo Bắc Hương từ 18.000-22.000 đồng/kg; giá gạo tẻ ngon Nàng Thơm chợ Đào từ 19.500-22.000 đồng/kg; giá gạo nếp từ 25.000-40.000 đồng/kg.

Giá gạo tăng tác động đến giá các mặt hàng lương thực chế biến và ngũ cốc khác như giá khoai tháng Chín tăng 2,99% so với tháng trước; bún, bánh phở, bánh đa tăng 2,32%; ngô tăng 2,3%; sắn tăng 0,96%; miến tăng 0,62%; mỳ sợi, mỳ, phở, cháo ăn liền tăng 0,34%; bột mỳ tăng 0,35%; bột ngô tăng 0,27%.

1.2. Thực phẩm (+0,38%)

Giá thực phẩm tháng 9/2023 tăng 0,38% so với tháng trước, tập trung chủ yếu ở một số mặt hàng sau:

– Giá thịt gia cầm tăng 0,69% so với tháng trước do nhu cầu tiêu dùng tăng vào dịp Lễ Quốc khánh 02/9, trong đó giá thịt gà tăng 0,55%; thịt gia cầm đông lạnh tăng 0,32%; thịt gia cầm khác tăng 1,11%.

– Giá thủy sản tươi sống tăng 0,48% so với tháng trước do nhu cầu tăng, sản lượng khai thác giảm khi vào mùa mưa bão, tàu thuyền hạn chế ra khơi đánh bắt, trong đó giá cá tươi hoặc ướp lạnh tăng 0,53%, giá tôm tươi hoặc ướp lạnh tăng 0,48%. Theo đó, giá thủy sản chế biến tháng Chín tăng 0,31% so với tháng Tám.

– Giá rau tươi, khô và chế biến tăng 1,07% so với tháng trước, chủ yếu do nhu cầu tiêu thụ tăng cùng với giai đoạn giao mùa, thời tiết mưa nắng thất thường ảnh hưởng đến diện tích canh tác rau. Trong đó, giá bắp cải tăng 3,9% so với tháng trước; cà chua tăng 4,33%; su hào tăng 2,91%; đỗ quả tươi tăng 1,77%; rau gia vị tăng 1,59%.

– Giá quả tươi, quả chế biến tăng 1,06% do nhu cầu tiêu dùng mặt hàng này cao vào ngày Lễ Rằm tháng 7 âm lịch. Trong đó, giá xoài tăng 5,12%; quả tươi khác tăng 0,69%; chuối tăng 0,35%.

– Giá nước mắm, nước chấm tăng 0,41% so với tháng trước; giá chè, cà phê, ca cao tăng 0,33%; bánh, mứt, kẹo tăng 0,17%; đường, mật tăng 0,59% do nguyên liệu đầu vào và phí vận chuyển tăng.

1.3. Ăn uống ngoài gia đình (+0,54%)

Giá dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tháng 9/2023 tăng 0,54% so với tháng trước, chủ yếu do giá nguyên liệu chế biến ở mức cao và nhu cầu du lịch trong tháng tăng vào dịp Lễ Quốc khánh 02/9. Trong đó, chỉ số giá ăn ngoài gia đình tăng 0,63% so với tháng trước; uống ngoài gia đình tăng 0,24% và đồ ăn nhanh mang đi tăng 0,29%.

2. Đồ uống và thuốc lá (+0,11%)

Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tháng 9/2023 tăng 0,11% so với tháng trước do nguyên liệu sản xuất đồ uống, thuốc lá và nhân công tăng. Cụ thể, thuốc hút tăng 0,19%; rượu các loại tăng 0,32%; nước khoáng tăng 0,11%.

3. May mặc, mũ nón, giày dép (+0,19%)

Chỉ số giá nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tháng 9/2023 tăng 0,19% so với tháng trước do giá nguyên phụ liệu sản xuất, chi phí nhân công và nhu cầu mua sắm chuẩn bị bước vào năm học mới tăng. Trong đó, giá vải các loại tăng 0,11%; quần áo may sẵn tăng 0,2%; mũ nón tăng 0,15%; giày dép tăng 0,23%; dịch vụ may mặc tăng 0,12%; dịch vụ sửa chữa giày dép tăng 0,22%.

4. Nhà ở và vật liệu xây dựng (+1,12%)

Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tháng 9/2023 tăng 1,12% so với tháng trước, tác động làm tăng CPI chung 0,21 điểm phần trăm do các nguyên nhân chủ yếu sau:

– Giá nhà ở thuê tăng 0,61% so với tháng trước do bước vào năm học mới nên nhu cầu thuê nhà tăng.

– Giá gas tăng mạnh 8,37% so với tháng trước, nguyên nhân là từ ngày 01/9/2023, giá gas trong nước điều chỉnh tăng 33.000 đồng/bình 12 kg sau khi giá gas thế giới tăng 90 USD/tấn (từ mức 465 USD/tấn lên mức 555 USD/tấn).

– Giá nước sinh hoạt tăng 2,83%, giá điện sinh hoạt tăng 0,34%[2] do nhu cầu tiêu thụ tăng.

– Giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,33% do chi phí ngày công lao động tăng.

– Giá dầu hỏa tăng 8,09%, chủ yếu do ảnh hưởng của đợt điều chỉnh giá ngày 05/9/2023, 11/9/2023 và 21/9/2023.

Ở chiều ngược lại, giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở giảm 0,06% so với tháng trước do giá thép giảm khi nhu cầu tiêu thụ chậm, cùng với đó giá thép sản xuất trong nước chịu áp lực cạnh tranh với giá thép nhập khẩu từ Trung Quốc.

5. Thiết bị và đồ dùng gia đình (+0,12%)

Chỉ số giá nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tháng Chín tăng 0,12% so với tháng trước, tập trung chủ yếu ở các mặt hàng như: Giá bàn là điện tăng 0,4%;  trang thiết bị nhà bếp và đồ dùng bằng kim loại cùng tăng 0,39%; xà phòng và chất tẩy rửa tăng 0,25%; hàng dệt trong nhà tăng 0,19%… . Ở chiều ngược lại, giá nhóm thiết bị dùng trong gia đình gồm máy điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh, máy giặt, thiết bị khác giảm 0,15% so với tháng trước do các siêu thị điện máy đồng loạt giảm giá các sản phẩm điện lạnh nhằm kích cầu tiêu dùng của người dân trong dịp Lễ.

6. Giao thông (+1,21%)

Chỉ số giá nhóm giao thông tháng 9/2023 tăng 1,21% so với tháng trước làm CPI chung tăng 0,12 điểm phần trăm, chủ yếu do:

– Ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước vào ngày 05/9/2023, 11/9/2023 và 21/9/2023 làm cho giá xăng tăng 3,54% so với tháng trước; giá dầu diezen tăng 5,96%.

– Phí học bằng lái xe tăng 1,81%[3]; giá dịch vụ trông giữ xe tăng 1,57%; giá bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,63%, trong đó giá sửa chữa xe máy tăng 0,65% và sửa chữa xe đạp tăng 0,19% do chi phí nhân công tăng.

Bên cạnh những mặt hàng tăng giá, có một số mặt hàng giảm giá trong tháng Chín như sau:

– Giá dịch vụ giao thông công cộng giảm 3,56% so với tháng trước, trong đó giá vận tải hành khách bằng đường hàng không giảm 16,46%; vận tải hành khách bằng đường sắt giảm 0,64%.

– Giá nhóm phương tiện đi lại giảm 0,06% so với tháng trước, trong đó giá xe ô tô mới giảm 0,04%; xe máy giảm 0,05%; xe ô tô đã qua sử dụng giảm 0,3%, chủ yếu do nhu cầu tiêu thụ của người dân giảm vào tháng 7 âm lịch, trong khi nguồn xe tồn kho lớn khiến các doanh nghiệp giảm giá bán để kích cầu tiêu dùng.

7. Giáo dục (+8,06%)

Chỉ số giá nhóm giáo dục tháng Chín tăng 8,06% so với tháng trước, trong đó dịch vụ giáo dục tăng 8,99%[4] do một số địa phương thực hiện tăng học phí đối với các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông trên địa bàn theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Một số trường đại học công lập, dân lập, tư thục cũng tăng học phí năm học 2023-2024 để đảm bảo thu chi thường xuyên. Bên cạnh đó, giá văn phòng phẩm tháng 9/2023 tăng 1,26% so với tháng trước, trong đó giá sách giáo khoa tăng 2,24%; giá vở, giấy viết các loại tăng 0,72%; giá bút viết các loại tăng 0,54%; giá văn phòng phẩm và đồ dùng học tập khác tăng 0,35%.

8. Văn hóa, giải trí và du lịch (+0,06%)

Chỉ số giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tháng Chín tăng 0,06% so với tháng trước, tập trung chủ yếu ở các nhóm: Giá hoa, cây cảnh, vật cảnh tăng 0,42%; dịch vụ du lịch trong nước tăng 0,25%. Ở chiều ngược lại, giá dịch vụ du lịch nước ngoài giảm 0,37% so với tháng trước; khách sạn giảm 0,05%; dịch vụ văn hóa; thiết bị thể dục thể thao lần lượt giảm 0,05% và giảm 0,03%.

9. Hàng hóa và dịch vụ khác (+0,17%)

Chỉ số giá nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tháng 9/2023 tăng 0,17% so với tháng trước, tập trung chủ yếu ở mặt hàng đồ trang sức tăng 1,09%; dịch vụ cắt tóc, gội đầu tăng 0,25%; vật dụng và dịch vụ về hiếu hỉ tăng 0,2%.

10. Chỉ số giá vàng (+0,94%)

 Giá vàng trong nước biến động ngược chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 25/9/2023, bình quân giá vàng thế giới ở mức 1.950,5 USD/ounce, giảm 0,29% so với tháng 8/2023. Kết thúc cuộc họp chính sách ngày 20/9/2023, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) quyết định giữ nguyên lãi suất, duy trì ở mức 5,25%-5,5%, cao nhất trong 22 năm, thúc đẩy xu hướng đi lên của đồng USD và lợi suất trái phiếu, làm giảm sức hấp dẫn của vàng.

Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 9/2023 tăng 0,94% so với tháng trước; tăng 4,91% so với tháng 12/2022; tăng 7,83% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 9 tháng năm 2023 tăng 2,22% so với cùng kỳ năm trước.

11. Chỉ số giá đô la Mỹ (+1,53%)

Đồng đô la Mỹ trên thị trường thế giới tăng trong tháng 9/2023. Ngày 20/9/2023, FED thông báo giữ nguyên lãi suất, duy trì trong biên độ 5,25% – 5,5%, đã đẩy lãi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm lên mức 4,5%, cao nhất trong 15 năm qua. Đồng thời, chỉ số US Dollar Index đã đẩy lên 105 điểm, mức cao nhất kể từ tháng 11/2022. Tính đến ngày 25/9/2023, chỉ số đô la Mỹ trên thị trường quốc tế đạt mức 104,61 điểm, tăng 2,02% so với tháng trước.

Trong nước, giá đô la Mỹ bình quân trên thị trường tự do quanh mức 24.274 VND/USD. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9/2023 tăng 1,53% so với tháng trước; tăng 0,35% so với tháng 12/2022; tăng 2,43% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 9 tháng năm 2023 tăng 2,29% so với cùng kỳ năm trước. 


Đánh giá: